Ozone và chỉ số ORP

Chi so ORP

ozone ung dung trong xu ly nuoc dong chai scaled

ORP là gì?

ORP là một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong ngành xử lý nước và chế biến thực phẩm. ORP là viết tắt của “Oxidation-Reduction Potential.” Vậy điều đó có ý nghĩa gì? Một định nghĩa hoạt động tốt là “ORP là thước đo độ sạch của nước và khả năng phân hủy các chất gây ô nhiễm.” ORP có phạm vi từ -2.000 đến +2.000 và các đơn vị tính bằng “mV” (milivôn). Vì ozone là một chất oxy hóa nên trong bài báo này, tác giả chỉ quan tâm đến mức ORP dương (trên 0 mV).

Cảm biến ORP hoạt động bằng cách đo lượng oxy hòa tan. Nhiều chất gây ô nhiễm trong nước dẫn đến lượng oxy hòa tan ít hơn vì các sinh vật đang tiêu thụ oxy và do đó làm giảm mức ORP. Mức ORP càng cao, nước càng có nhiều khả năng tiêu diệt các chất gây ô nhiễm bên ngoài như vi khuẩn hoặc chất gây ô nhiễm gốc carbon. Biểu đồ bên dưới xác định các mức ORP cho các ứng dụng khác nhau.

MỨC ORP (mV) ỨNG DỤNG
0-150 Không sử dụng thực tế
150-250 Nuôi trồng thủy sản
250-350 Tháp làm mát
400-475 Bể bơi
450-600 Bồn tắm nước nóng
600 Khử trùng nước *
800 Khử trùng nước ** Tiệt trùng nước **

Mức ORP cũng có thể được xem là mức độ hoạt động của vi khuẩn trong nước vì mối liên hệ trực tiếp xảy ra giữa mức ORP và số lượng Coliform trong nước. Biểu đồ dưới đây liệt kê các mức ORP và số lượng Coliform tương đối.

Nhược điểm của ORP

ORP không thể được sử dụng như một chỉ thị trực tiếp của ozone hòa tan, ngoại trừ trong các ứng dụng nước rất sạch.

Ưu điểm của ORP

ORP là một thước đo thuận tiện về khả năng thực hiện một nhiệm vụ hóa học của ozone. ORP có giá trị trên một phạm vi pH rộng và đầu dò ORP đủ chắc chắn để được đặt vào các quy trình để đo nội tuyến. Các đầu dò có thể chịu được áp suất quá trình vượt quá 30 psi.

ORP và Ozone

Mặc dù ORP có thể được sử dụng làm chỉ thị trực tiếp cho lượng ôzôn hòa tan trong nước sạch, thậm chí độ đục vừa phải (vẩn đục) cũng dẫn đến giá trị ORP thấp hơn nhiều so với lượng ôzôn hòa tan thực tế được mong đợi. Nói cách khác, ORP không đáng tin cậy để đo nồng độ ôzôn trong nước bẩn. Bộ dụng cụ phát hiện ôzôn có sẵn và sẽ chính xác ở mức nồng độ ôzôn được khuyến nghị cho hầu hết các ứng dụng.

Máy đo ORP hoạt động như thế nào?

Một đầu dò ORP hoạt động bằng cách tạo ra một tế bào điện áp nhỏ (pin) giữa chất lỏng mà nó chứa và dung dịch nó được ngâm trong đó. Điện áp đo được sau đó được chuyển đổi thành pH hoặc thế oxy hóa / khử. Các đầu dò hiện đại có các thành phần sau:

  1. Thân của điện cực, thường được làm từ thủy tinh không dẫn điện hoặc nhựa chịu va đập.
  2. Điện cực so sánh, thường được làm từ các kim loại giống như điện cực chính.
  3. Vùng tiếp giáp giữa dung dịch nghiên cứu và dung dịch đối chiếu, thường được làm từ gốm sứ hoặc một ống mao dẫn bằng sợi amiăng hoặc thạch anh.
  4. Dung dịch đối chiếu, thường là 0,1 mol / L KCI.
  5. Điện cực bên trong, thường được làm bằng bạc clorua hoặc calomel (Thủy ngân (l) clorua).
  6. Dung dịch đối chiếu bên trong, dung dịch đệm trung tính 0,1 mol / L KCI.
  7. Bộ phận cảm biến của điện cực, một bóng đèn được làm từ một loại thủy tinh đặc biệt.
  8. Khi dùng điện cực bạc clorua, một lượng nhỏ AgCI có thể kết tủa bên trong bầu thủy tinh.

Máy đo ORP đo điện áp rất nhỏ được tạo ra bằng một đầu dò được đặt trong nước đã được ozon hóa. Điện cực được làm bằng bạch kim hoặc vàng, sẽ mất điện tử vào chất oxy hóa một cách thuận nghịch. Một điện áp được tạo ra được so sánh với điện cực bạc (tham chiếu) trong dung dịch muối bạc, tương tự như một đầu dò pH. Càng có nhiều chất ôxy hóa, hiệu điện thế giữa các dung dịch càng lớn.

Bạn cũng có thể thích...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.